Suy thận mạn tính là hậu quả của các bệnh thận mạn tính, do giảm dần số lượng nephron làm giảm dần chức năng của thận. Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta đã hiểu rõ suy thận mạn tính hơn trong lĩnh vực cơ chế sinh bệnh và nhất là các biện pháp điều trị hữu hiệu.

Từ khi ra đời các phương pháp lọc máu ngoài thận và nhất là ghép thận, tiên lượng của những bệnh nhân suy thận mạn tính giai đoạn cuối đã có nhiều khả quan hơn, người bệnh có thể sống sinh hoạt gần như người bình thường với thận nhân tạo, lọc màng bụng hoặc thận ghép.

tt

Khái quát chung trong điều trị suy thận mạn

Áp dụng  các biện pháp điều trị dành cho bệnh nhân suy thận mạn tính phụ thuộc vào giai đoạn hay nói cách khác là mức độ nặng, nhẹ của bệnh.

–  Trong giai đoạn sớm của suy thận mạn tính, việc điều trị bao gồm chế độ dinh dưỡng, thuốc, điều trị nguyên nhân. Những biện pháp điều trị này được gọi là điều trị bảo tồn với mục đích làm chậm suy thận mạn tính diễn tiến đến giai đoạn cuối.

– Trong giai đoạn cuối của suy thận mạn tính cần phải phối hợp giữa điều trị bảo tồn và các biện pháp gọi là điều trị thay thế thận suy như: lọc màng bụng, thẩm phân máu (thận nhân tạo), ghép thận.

Các biện pháp điều trị trong suy thận mạn tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ trợ và bổ sung cho nhau. Ở các giai đoạn đầu của thận mạn tính thì điều trị bảo tồn, đến một giai đoạn nào đó không còn đủ hiệu quả thì bệnh nhân được điều trị bằng lọc máu ngoài thận (lọc màng bụng, thận nhân tạo), khi cần thiết, có chỉ định cũng như có thận phù hợp thì ghép thận. Sau khi ghép thận, nếu thận ghép bị đào thải thì bệnh nhân lại được lọc máu. Ngay cả sau khi ghép thận vẫn phải điều trị bảo tồn.

1. Điều trị bảo tồn suy thận mạn tính

– Mục đích của điều trị bảo tồn là đảm bảo cho người bệnh giữ được chức năng thận với thời gian dài nhất có thể được, nhờ vào giữ hằng định nội môi mặc dù người bệnh có giảm chức năng thận.

– Điều trị bảo tồn bao gồm những biện pháp tiết thực và thuốc những biện pháp này cần phải được thực hiện ở giai đoạn sớm để cho phép bệnh nhân tránh những biến chứng.

Làm chậm tiến triển của suy thận mãn tính: Ngoài điều trị bệnh nguyên dẫn đến suy thận mạn tính, hiện nay có các can thiệp được đưa ra nhằm làm chậm tối đa tiến triển của các bệnh nhân mạn tính như Kiếm soát có hiệu quả huyết áp:

– Sử dụng thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể của angiotensine II.
– Chế độ ăn hạn chế protid
– Kiểm soát có hiệu quả đường huyết ở những bệnh nhân đái tháo đường.

2. Điều trị tăng huyết áp

Những nghiên cứu lâm sàng được thực hiện cho đến nay đã cho kết luận rằng, khi kiểm soát tốt tăng huyết áp sẽ làm chậm rất hiệu quả diễn tiến của các bệnh thận mạn tính. Những khuyến cáo hiện nay là giữ huyết áp của bệnh nhân suy thận mạn tính ở mức:
– Dưới 130/85 mmHg khi protein niệu dưới 1g-24 giờ.
– Dưới 125/ 75 mmHg khi protein niệu trên hoặc nằng 1g-24 giờ.

Chẹn hệ thống renin – angiotensin

– Ở những bệnh nhân đái tháo đường type 1 có protein niệu cần được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.
– Ở những bệnh nhân đái tháo đường type 2 có protein niệu cần được điều trị bằng thuốc chẹn thụ thể của angiotensin II.
Cho đến nay, liều lượng tối ưu của các thuốc chẹn hệ thống renin – angiotensin vẫn còn là câu hởi chưa có câu trả lời thoả đáng. Những thuốc trong nhóm này ngoài tác dụng hạ huyết áp còn làm giảm mức độ lọc protein niệu. protein niệu lại đống vai trò chủ yếu trong tiến triển bệnh lý thận. Vì thế, các thuốc chẹn hệ thống renin – angiotensin phải được sử dụng thích hợp, không những kiểm soát được huyết áp mà còn làm giảm tối đa protein niệu.

3. Hạn chế protid

Phân tích những nghiên cứu lâm sàng đã xác nhận rằng hạn chế protid cho phép làm chậm tiến triển của suy thận mạn tính. Vì vậy, yêu cầu một chế độ protid từ 0,8 – 1g/kg/ngày ở những bệnh nhân có mức lọc cầu thận dưới 60 ml/phút. Nhưng khẩu phần hạn chế protid này phải có calori đầy đủ (30 đến 35 kcal/kg/ngày)

Dự phòng những nguyên nhân của suy thận cấp tính: Cần phải loại bỏ những yếu tố thuận lợi của suy thận cấp tính trên những đối tượng này.

Xem tiếp phần 2 tại đây.

TS. Võ Tam
Phó chủ nhiệm Bộ môn Nội – Trường Đại học Y Dược Huế

Nhận xét