BS. Trần Văn Quốc (Bệnh viện đa khoa An Giang) và BS. Trần Ngọc Sinh (Trường đại học y dược TP.HCM) đã nghiên cứu 92 bệnh nhân (BN) sỏi đơn độc cực dưới thận, được điều trị bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể tại Bệnh viện Chợ Rẫy và BV Bình Dân.

Kết quả:

– Tỷ lệ sạch sỏi chung là 73,9% (68/92 BN).

– Tỷ lệ sạch sỏi giảm khi kích thước sỏi tăng (5–10mm: 90%, 11–15mm: 79,4%, 16–20mm: 27,8%).

Các yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến tỷ lệ sạch sỏi bao gồm: kích thước sỏi trên 15 mm, độ cản quang sỏi mạnh, góc đài – bể thận dưới 40 độ.

Tán sỏi ngoài cơ thể (TSNCT) nên được xem là phương pháp điều trị tối ưu cho sỏi cực dưới thận kích thước từ 15 mm trở xuống.
Với những tiến bộ trong lĩnh vực ngoại khoa, các phương pháp TSNCT và nội soi đã cho phép điều trị sỏi thận ít xâm hại hơn, làm giảm tỷ lệ phẫu thuật kinh điển một cách đáng kể.
Sự ra đời của phương pháp TSNCT được xem như một cuộc cách mạng trong điều trị sỏi tiết niệu. Tỷ lệ sạch sỏi trong các nghiên cứu có sự khác nhau phụ thuộc nhiều yếu tố, vị trí của sỏi thận cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến kết quả TSNCT và sỏi cực dưới thận thường cho tỷ lệ sạch sỏi thấp hơn các vị trí còn lại.

tt

Mặc dù TSNCT là một phương pháp điều trị được ưu tiên cho hầu hết bệnh nhân sỏi đường tiết niệu trên, tuy nhiên việc TSNCT điều trị bệnh nhân sỏi cực dưới thận vẫn còn là đề tài gây tranh cãi.

– Tỷ lệ sạch sỏi trong các nghiên cứu khác được báo cáo từ 43,7 – 84,8%. Tỷ lệ sạch sỏi trong nghiên cứu này là 73,9% so sánh với một số tác giả khác, kết quả này là chấp nhận được. Sự khác nhau về tỷ lệ sạch sỏi khác nhau giữa các nghiên cứu không chỉ do khác nhau về đặc điểm nhóm bệnh nghiên cứu, về máy TSNCT, kinh nghiệm của người thực hiện, … mà còn do sự khác nhau về tiêu chuẩn và độ nhạy của phương tiện xác định tình trạng sạch sỏi.

– Hầu hết các biến chứng sau TSNCT trong nghiên cứu này đều nhẹ, đáng kể nhất chỉ có 3 trường hợp tắc niệu quản do mảnh sỏi, trong đó chỉ có 1 trường hợp cần can thiệp phẫu thuật, 2 trường hợp còn lại được điều trị nội khoa đạt kết quả tốt.

– Trong nghiên cứu này, kích thước sỏi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ sạch sỏi. Theo Motola (1990), kích thước sỏi là yếu tố độc lập quan trọng nhất quyết định việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cho một bệnh nhân sỏi thận.

batuginjal

– Các tác giả khác cũng nhận định: tỷ lệ sạch sỏi chung sau TSNCT trong điều trị sỏi đơn độc cực dưới thận càng giảm khi kích thước tăng lên. Trong nghiên cứu của Lingeman (1994), tỷ lệ sạch sỏi là 74% với sỏi dưới 10 mm, 56% với sỏi 10 – 20 mm và chỉ 33,3% với sỏi trên 20 mm; theo Lin (2008): 55% với sỏi dưới 10 mm, 30,8% với sỏi 10 – 20 mm.

– Ngoài kích thước sỏi, độ cản quang của sỏi cũng là yếu tố có liên quan đến tỷ lệ sạch sỏi, sỏi cản quang càng mạnh thì tỷ lệ sạch sỏi càng giảm. Lê Đình Khánh và cộng sự (2005) khi nghiên cứu TSNCT sỏi thận kích thước lớn nhận thấy sỏi có độ cản quang mạnh (so với đốt sống L2), đậm độ không đều, bờ trơn láng là những yếu tố hạn chế kết quả chung. Gần đây, một số tác giả sử dụng độ Hounfield trên CT scan đánh giá độ cản quang của sỏi cũng thấy rằng độ Hounfield của sỏi là yếu tố tiên lượng kết quả TSNCT.

– Theo Lingeman (2007), nguyên nhân làm cho sự di chuyển và đào thải các mảnh sỏi ở cực dưới thận bị hạn chế đến nay vẫn chưa rõ ràng. Một số tác giả cho rằng sự phụ thuộc yếu tố trọng lực và các đặc điểm giải phẫu như góc đài – bể thận, chiều dài đài dưới và chiều rộng cổ đài dưới có vai trò quan trọng đối với sự bài tiết mảnh sỏi ở cực dưới thận.

– Trong nghiên cứu này, góc đài – bể thận có mối liên quan với tỷ lệ sạch sỏi, những BN có góc càng nhỏ thì nguy cơ sót sỏi càng tăng. Tỷ lệ sạch sỏi ở nhóm BN có góc đài – bể thận dưới 40 độ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có góc đài – bể thận từ 40 độ trở lên (67,3% so với 87,5%). Chiều dài đài dưới và chiều rộng cổ đài dưới không liên quan đến tỷ lệ sạch sỏi.

Nhóm nghiên cứu đưa ra kết luận: tỷ lệ sạch sỏi chung là 73,9%. Các yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến tỷ lệ sạch sỏi bao gồm: kích thước sỏi trên 15 mm, sỏi cản quang mạnh, góc đài – bể thận dưới 40 độ. TSNCT nên được xem là phương pháp điều trị tối ưu cho BN sỏi cực dưới thận có kích thước từ 15 mm trở xuống; đối với sỏi trên 15 mm, nên chuyển sang phương pháp khác như lấy sỏi qua da, tán sỏi qua nội soi niệu quản với ống soi mềm hoặc mổ mở.

Gia Khôi

Nhận xét