Thận có chức năng chính là bài tiết hầu hết các sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hoá ra khỏi cơ thể như ure, creatinin, amoniac, … và kiểm soát hầu hết nồng độ các chất và thể tích dịch cơ thể. Qua đó điều hoà nồng độ các chất và áp suất thẩm thấu trong huyết tương, điều hoà pH và thể tích dịch ngoại bào.

Thận thực hiện 2 chức năng này là nhờ hoạt động lọc ở cầu thận, tái hấp thubài tiết ở ống thận. Ngoài ra, thận còn tham gia hoạt điều hoà huyết áp và sản sinh hồng cầu. Chính vì vậy, các bệnh của thận thường làm tăng huyết áp động mạch và thiếu máu.

Chức năng của thận – Quá trình lọc ở cầu thận (P.1)

Chức năng của thận – Quá trình lọc ở cầu thận (P.1)

1. Tính thấm của màng lọc cầu thận

Màng lọc cầu thận là một màng có tính thấm chọn lọc rất cao. Tính thấm chọn lọc của màng phụ thuộc vào 2 yếu tố: kích thước lỗ lọc và điện tích thành lỗ lọc. Những chất có đường kính nhỏ hơn 70Ao (trọng lượng phân tử ~15000 dalton) đi qua được màng,những chất có đường kính và trọng lượng phân tử lớn hơn 80000 Dalton (như globulin) không đi qua được màng. Các phân tử có kích thước trung gian mà mang điện tích âm (vd: albumin) khó đi qua màng hơn là các phân tử không điện tích. Các chất gắn với protein không qua được màng. Các chất bám vào màng sẽ bị thực bào. Kết quả của quá trình lọc cầu thận là hình thành nước tiểu đầu ở bọc Bowman.

2. Thành phần của dịch lọc

Dịch lọc từ huyết tương trong bọc bowman được gọi là nước tiểu đầu. Thành phần của nước tiểu gồm có các chất hoà tan giống như là huyết tương trừ các chất hòa tan có phân tử lượng lớn. Trong nước tiểu đầu, không có các chất có phân tử lượng lớn hơn 80.000,không có các thành phần hữu hình của máu. Dịch lọc đẳng trương so với huyết tương và có pH bằng pH của huyết tương. Các protein phân tử lượng thấp có thể đi qua màng lọc nhưng rất ít. Bình thường lượng dịch lọc mỗi ngày trung bình là 170-180 lít.

3. Cơ chế lọc ở cầu thận

Quá trình lọc diễn ra theo cơ chế khuyếch tán, phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa các áp suất. Các áp suất tham gia quá trình lọc gồm có:
– Áp suất thuỷ tĩnh của máu mao mạch cầu thận: có tác dụng đẩy nước và các chất hoà tan ra khỏi lòng mạch vào bọc Bowman, có giá trị bằng 60mmHg, kí hiệu Ph.

– Áp suất keo của huyết tương: Có tác dụng giữ nước và các chất hoà tan ở lại lòng mạc, có giá trị bằng 32 mmHg,kí hiệu là Pk.

– Áp suất thuỷ tĩnh của bọc Bowman: có tác dụng đẩy nước và các chất hoà tan từ bọc Bowman vào trong lòng mạch, có giá trị bằng 18mmHg, kí hiệu là Pb.

                                                          Áp suất lọc: Pl= Ph – (Pk+Pb)=60-(32+18)=10 mmHg

Kết quả lực đẩy nước và chất hoà tan từ trong lòng mạch vào bọc Bowman đã thắng lực giữ và đẩy nước vào trong lòng mạch, làm cho nước và chất hoà tan được lọc từ trong lòng mạch vào bọc Bowman.
Quá trình lọc chỉ xảy ra khi áp suất lọc > 0, tức là áp suất mao mạc lớn hơn áp suất keo và áp suất thuỷ tĩnh bọc Bơman (Ph > Pk+Pb)

Chức năng của thận – Quá trình lọc ở cầu thận (P.1)

Chức năng của thận – Quá trình lọc ở cầu thận (P.1)

Các chỉ số đánh giá chức năng lọc của thận

1. Hệ số lọc của cầu thận (Filtration coeficient, Kf) 
          Hệ số lọc tỷ lệ giữa lưu lượng và áp suất lọc.
          Hệ số lọc phụ thuộc vào diện tích của mao mạch và tính thấm của màng lọc. Trị số bình thường là 12,5 ml/phút/mmHg.

2. Lưu lượng lọc của cầu thận (Glomerular Filtration Rate, GFR)
          Là số ml dịch lọc được tạo thành trong một phút. Lưu lượng lọc tỷ lệ thuận với hệ số lọc và áp lực lọc cầu thận.
          Bình thường,người lớn có GFR = 12,5 x 10 =125 ml/phút.
          Như vậy, mỗi ngày có khoảng 180 lít dịch được lọc qua cầu thận.

3. Phân số lọc của cầu thận (Filtration fraction, FF)
          Là tỷ lệ % giữa lưu lượng dịch lọc (ml) và lượng huyết tương qua thận (ml) trong một phút.
        Bình thường, tỷ lệ này bằng khoảng 20% tức là trong một phút có khoảng 20% lượng huyết tương được lọc qua thận vào bọc Bowman.
                    FF= 125ml/650 ml= 19% hoặc 1/5

Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình lọc

Mọi nguyên nhân làm thay đổi một hoặc nhiều áp suất tham gia vào quá trình lọc dẫn đến thay đổi áp suất lọc sẽ làm thay đổi lượng nước tiểu đầu.

– Lưu lượng máu thận: lưu lượng máu tới thận làm tăng áp suất mao mạch cầu thận, do đó làm tăng phân số lọc.
– Áp suất keo của huyết tương: áp suất keo của huyết tương giảm sẽ làm áp suất lọc tăng. Nồng độ protein trong máu giảm quá thấp sẽ gây phù (phù dinh dưỡng).

– Ảnh hưởng của co động mạch đến: co tiểu động mạch đến làm giảm lượng máu đến thận và làm giảm áp suất trong mao mạch cầu thận nên làm giảm lưu lượng lọc. Giãn tiểu động mạch đến gây tác dụng ngược lại.

– Ảnh hưởng của sự co tiểu động mạch đi: co tiểu động mạch đi cản trở máu ra khỏi mao mạch nên làm tăng áp suất mao mạch cầu thận. Nếu co nhẹ thì làm tăng áp suất lọc. Nếu co mạnh, huyết tương bị giữ lại một thời gian dài trong cầu thận,do vậy huyết tương được lọc nhiều và không được bù nên áp suất keo tăng,kết quả là lưu lượng lọc giảm mặc dù áp suất trong mao mạch thận vẫn cao.

Xem tiếp phần 2 tại đây.

Theo yduocvn.com

Nhận xét