Thận có chức năng chính là bài tiết hầu hết các sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hoá ra khỏi cơ thể như ure, creatinin, amoniac,… và kiểm soát hầu hết nồng độ các chất và thể tích dịch cơ thể, qua đó thận có chức năng điều hoà nồng độ các chất và áp suất thẩm thấu trong huyết tương, điều hoà pH và thể tích dịch ngoại bào.

Thận thực hiện 2 chức năng này là nhờ hoạt động lọc ở cầu thận, tái hấp thu và bài tiết ở ống thận. Ngoài ra, thận còn tham gia hoạt điều hoà huyết áp và sản sinh hồng cầu. Chính vì vậy, các bệnh của thận thường làm tăng huyết áp động mạch và thiếu máu.

Chúng ta đã hiểu thêm về hoạt động lọc ở cầu thận và hoạt động tái hấp thu ở 2 phần trước. Ờ phần cuối cùng này, sẽ giải thích thêm về chức năng Bài tiết tích cực của thận.

Trong đó, có bài tiết về:

- Bài tiết H+: do tế bào ống thận thực hiện. Sự bài tiết phụ thuộc nồng độ CO2 máu.
– Bài tiết NH3: do tế bào ống thận tạo ra tham gia vào quá trình đào thải H+.

– Bài tiêt K+ở OLX nhờ tác dụng của aldosterol… và một sỗ chất khác.

Chức năng của thận – Quá trình bài tiết tích cực (P.3)

Chức năng của thận – Quá trình bài tiết tích cực (P.3)


Thận điều hoà cân bằng kiềm toan máu

1. Bài tiết H+: theo cơ chế khuyếch tán và chủ yếu là vận chuyển tích cực: tại tế bào ống thận CO2 + H2O – > H2CO3 dưới xúc tác của CA. Sau đó H2CO3 phân ly thành H+ và HCO3-. H+ được vận chuyển tích cực qua màng tế bào có sự trao đổi với Na+. Tại ống thận H+ tác dụng với hệ thống đệm của phosphate và acid hữu cơ yếu để đào thải ra ngoài. Còn NaHCO3 vào dịch gian bào và vào lòng mạch.

2. Tái hấpthu HCO3-: khuyếch tán một phần và chủ yếu theo cơ chế vận chuyển tích cực không phải trực tiếp mà thông qua CO2: trong lòng ống lượn HCO3- + H+ ->H2CO3 ->H2O + CO2. CO2 khuyếch tán vào tế bào ống thận xảy ra quá trình như phần 1. HCO3- được tạo ra hâp thu vào dịch gian bào và vào máu.

3. Tổng hợp và bài tiết NH3: do tế bào ống thận tổng hợp chủ yếu từ glutamine -> NH3 tạo ra được khuyếch tán vào lòng ống thận. Đây là cơ chế quan trọng đào thải H+, thông qua tạo ra NH3.

Thận điểu hoà các yếu tố khác

Thận điều hoà cân bằng nước điện giải chính là điều hoà cân bằng thể tích – áp suất thẩm thấu dịch ngoại bào. Các quá trình siêu lọc, tái hấp thu, bài tiết tích cực là thể hiện sự điều hoà cân băng nước điện giải của thận.

1. Điều hoà cân bằng điện giải
– Ion Na+ chiếm 90% ion dịch ngoại bào quyết định áp suất thẩm thấu dịch ngoại bào.

OLG: 60 – 80% được hâp thu chủ yếu là vận chuyển tích cực, một phần khuyếch tá

Henle: tái hâp thu theo cơ chế vận chuyển tích cực ở phần lên.

OLX: tái hâp thu ngược gradient nồng độ dưới tác dụng của aldosterol và ở đây mới thực sự mang y nghĩa điều hoà – vì sự hấp thu theo nhu cầu cơ thể theo cơ chế phản xạ thần kinh thể dịch – ảnh hưởng đến sự bài tiết aldosterol.

- K+: được hấp thu gần như hoàn toàn ở OLG thông qua quá trình vận chuyển tích cực nhờ cấu trúc nằm ở phía màng đỉnh và đáy của OLG. Bài tiết tích cực ở OLX, nó quyết định nồng độ K+ dịch ngoại bào, sự điều hoà thông qua Aldosterol.

- Ca++, Mg++: liên quan đến hấp thu ở ruột và đào thải ở thận. Tại thận có quá trình tái hấp thu và bài tiết phụ thuộc vào nồng độ các ion này trong máu. PTH hormone cận giáp làm tăng đào thải Ca++, Calcitonin hormone giáp làm giảm đào thải Ca++.

- Cl: liên quan đến tác dụng hấp thu của Na+….

2. Điều hoà cân bằng nước
- OLG 80%, Henle 5%: phụ thuộc vào sự tái hấp thu các chất có áp lực thẩm thấu cao.
- OLX 15%: phụ thuộc vào ADH tiết theo cơ chế phản xạ thần kinh thể dịch, nó giữ vai trò rất quan trọng trong điều hoà cân bằng nước liên quan đến thể tích dịch ngoại bào.

3. Điều hoà HA:HA giảm hoạt hóa hệ thống RAA: Angiotensin II gây co mạch, Aldosterol tăng tái hấp thu Na+ hai yếu tố trên làm tăng HA.

4. Điều hoà sinh sản hồng cầu: khi lượng O2 máu giảm kích thích thận tạo ra erythrogenin là enzyme xúc tác tạo erythropoietin từ 1 glubolin do gan tổng hợp. Erythropoietin tác động lên tủy xương sinh tiền nguyên HC và tác động chuyển nhanh HC non thanh HC trưởng thành vào máu.

5. Điều hoà qúa trình chống đông: sản xuất ra Urokinase huỷ fibrin làm tan cục máu đông.

6. Điều hoà chức năng thận: Phản xạ thần kinh thể dịch

- Phản xạ thụ thể thẩm thấu:
Các thụ thể ở ngoại vi nằm khắp các mô liên kết, thành mạch. ở trung ương nằm ở vùng dưới đồi. Khi áp lực thẩm thấu tăng các thụ thể bị kích thích tăng tiêt ADH, và kích thích trung khu dinh dưỡng gây cảm giác khát, khi áp lực thẩm thấu giảm các thụ thể này bị ức chế gây giảm tiết ADH và mất cảm giác khát.

- Phản xạ thụ thể thể tích:
      Các thụ thể nằm ở thành mạch phổi, thận, xoang ĐM cảnh và đậc biệt ở thành tâm nhĩ trái. Các thụ thể bị kích thích khi V dịch ngoại bào giảm kích thích vùng dưới đồi giải phóng CRH hormone này kích thích tuyến yên tiết ACTH -> kích thích tuyến thượng thận tiết aldosterol làm tăng tái hấp thu Na, khi Na+ máu tăng lại kích thích tiết ADH.
      Lưu lượng tuần hoàn giảm kích thíc hệ RAA.
      Thiếu O2 kênh vận chuyển Na, K bị rối loạn dẫn đến tăng K dịch ngoại bào gây tăng tiết aldosterol (cơ chế gặp trong suy tim)
      Lưu lượng tuần hoàn qua thận tăng thì áp lực lọc tăng làm tăng lượng nước tiểu và ngược lại.

- Phản xạ thần kinh:
                  Nếu kích thích vào một số vùng của vỏ não có thể làm tăng hay giảm lượng nước tiểu.
                  Hệ thần kinh thực vật có thể làm tăng hay giảm lượng nước tiểu.

7. Một số nghiệm pháp thăm dò chức năng thận.

- Đo gián tiếp:
      Tính lượng đào thải của một chất trong nước tiểu 24 giờ: nó phụ thuộc vào chế độ ăn, chuyển hoá, cường độ hoạt động cơ bắp.
      Thăm dò gián tiếp bằng cách đo nồng độ chúng trong máu: chính xác hơn.
      Đo tỷ trọng nước tiểu:
        + Nếu đồng tỷ trọng cao: là giảm chức năng cầu thận trong khi chức năng cô đặc của ống thận vẫn bình thường gặp trong viêm cầu thận cấp hay mạn tính.
           + Nếu đồng tỷ trọng thấp: suy giảm khả năng cô đặc nước tiểu. Trong xơ thận viêm cầu thận mạn.

- Đo trực tiếp:
      Đo tốc độ lọc cầu thận: là lưu lượng nước tính bằng ml/phút được cầu thận lọc xang ống thận..
      Đo hệ số thanh lọc của một chất: là thể tích huyết tương (ml) được thận lọc sạch chất đó trong một phút.
Áp dụng: trường hợp thông thường chỉ cần thăm dò gián tiếp, khi đã khẳng định có suy thận máo cần thăm dò trực tiếp nhằm đánh giá mức độ suy và giai đoạn để áp dụng chế độ điều trị.

Theo yduocvn.com

Nhận xét